Tổng hợp

NGUYÊN DO NÀO PHẬT TỬ PHÁT BỒ ĐỀ TÂM

I. TIỂU DẪN:
Phát Bồ đề Tâm là một pháp môn tu, nếu không hơn thì bằng chứ không kém một pháp môn nào trong tam tạng, bởi nó nói lên được cứu cánh của việc tu hành.
Trong kinh Đại Phương Tiện, Phật dạy A Nan: “Phát Bồ Đề Tâm là pháp môn thù thắng giúp hành giả rút ngắn tiến trình tu tập của mình”. Trong kinh Hoa Nghiêm Phật lại ân cần nhắc nhở: “Kẻ chỉ quên việc phát Bồ Đề Tâm thì việc làm Phật sự là đang làm ma sự” huống hồ là kẻ tâm không phát, nguyện không lập.

GIỚI THIỆU XUẤT XỨ
PHÁP MÔN PHÁT BỒ ĐỀ TÂM.
Trong kinh Đại Phương Tiện ghi lại rằng: Sau khi Ngài A Nan bị Ni Kiền Tử vấn nạn: “Cù Đàm, bổn sư của Ngài là kẻ bất đứùc, vì mới sanh ra mẹ đã mất, vợ là kẻ hiền thục mà từ bỏ đi tu là bất nghĩa, vợ hiền con ngoan mà đem cho kẻ khác mặc tình sử dụng là bất nhân. Không tiếp nối giữ gìn Vương nghiệp mà Tịnh Phạn Vương một đời nhân đức tạo dựng, dân chúng an cư, đất nước phú cường là bất trung. Là con một mà bỏ cha để cha rầu buồn là bất hiếu. Tôn kẻ bất đức, bất nghĩa, bất nhân, bất trung, bất hiếu làm thầy là vô trí”.
Ngài A Nan buồn rầu trở về gặp Phật. Phật đã ân cần giải nghi cho Ngài. Ngài sung sướng bạch Phật nên thương xót chỉ cho Ngài và đại chúng pháp môn dễ tu dễ chứng nhất để hạ thủ tu trì. Phật dạy pháp môn thù thắng nhất, Phật tử nên hạ thủ, đó là phải biết tri ân và báo ân.
Sau một lúc suy nghĩ, A Nan bạch tiếp: “Pháp môn này nghe thì dễ nhưng ân đã thọ thì vô biên, thứ lớp hạ thủ khó sâu, xin Phật chỉ rõ cho cách thức hạ thủ”. Phật khen ông khéo nói và bảo rằng: “Cách tri ân, báo ân thù thắng  nhất là tự mình phát Bồ đề Tâm và khuyến khích kẻ khác cùng phát tâm Bồ đề như vậy”.

II. ĐỊNH NGHĨA:
Phát là mở ra, khởi lên hoặc dựng nên, Bồ đề là giác ngộ, là thấy biết tự tánh thanh tịnh bất nhiễm, là bản lai diện mục của chính mình.
Chữ Tâm có rất nhiều nghĩa. Thế tục hiểu đó là trái tim, là tấm lòng, còn nghĩa đầy đủ của Phật là Thiên Thủ Thiên Nhãn Vô Ngại Đại Bi Tâm, cái Tâm có công năng thấy biết chân thật tánh tướng của vạn pháp, rõ thấu đường lối dắt dìu chúng sanh ra khỏi khổ đau phiền não, thắng vượt mọi khó khăn chướng ngại của nghiệp duyên khổ đau và tử sanh.
Phát Bồ Đề Tâm là đứng ở địa vị chúng sanh, y nương theo pháp bảo, vạch con đường đi đến Phật quả, đạt được cái tâm nguyện Bồ đề như đã nêu trên, nên gọi là Phát Bồ đề tâm.

III. NỘI DUNG:
Theo Tục Tạng tập 109 trang 321 thì sắc thái tâm nguyện có tám đó là Chánh, Tøà, Chân, Ngụy, Đại, Tiểu, Viên, Thiên.
1. Chánh: Danh lợi không ham, vui thú không màng, chỉ mong ra khỏi luân hồi, chứng đạt Bồ đề quả vị, phát tâm như vậy gọi là Chánh.
2. Tà: Phát tâm tu hành mà mưu cầu danh tiếng lợi lạc, ham cái thú hiện tại hoặc cầu cái vui tương lai, phát tâm như vậy gọi là Tà.
3. Chân: Chỉ một lòng một dạ, ngước lên thì cầu Phật đạo, nhìn xuống chỉ mong hóa độ chúng sanh, dù cho gian khổ nghịch cảnh chướng duyên, lòng không chán mỏi thối chuyển. Phát tâm như vậy gọi là Chân.
4. Ngụy: Có tội không sám, có lỗi không cải, thiện pháp dẫu tu, vọng nghiệp khó dứt. Tâm từ dẫu có mà danh lợi vẫn thắng. Phát tâm như vậy gọi là Ngụy.
5. Đại: Chúng sanh đặng quả vô sanh an lạc, nguyện ta mới dứt. Tất cả đều đắc đạo Vô thượng, nguyện ta mới thành. Phát tâm như vậy gọi là Đại.
6. Tiểu: Coi 3 cõi như lao ngục, xem sanh tử như oan gia, chỉ mong tự độ không dám độ tha. Phát tâm như vậy gọi là Tiểu.
7. Viên: Nếu biết tự tánh là chúng sanh nên nguyện độ thoát, Tự tánh là Phật nên nguyện thành, đem cái tâm vô tướng, phát cái nguyện vô tướng, chứng cái quả vô tướng, cái tướng vô tướng cũng không thấy còn. Phát tâm như vậy gọi là Viên.
8. Thiên: Nếu ngoài tâm thấy có chúng sanh có Phật đạo rồi nguyện độ nguyện thành, công phu không xả, thấy biết không tan. Phát tâm như vậy gọi là Thiên.
Sau khi Phật tử đã biết 8 sắc thái lập tâm nguyện Bồ đề rồi, ta chỉ chọn 4 sắc thái đó là: Chánh, Chân, Đại, Viên. Có vậy mới gọi là Phát Bồ Đề Tâm.

IV. NGUYÊN DO NÀO PHẬT TỬ  PHÁT BỒ ĐỀ TÂM:
Như phần II đã ghi, điều cần và đủ, mà người Phật tử phải nên làm là tinh thần Biết ơn và trả ơn. Mười lý do sau đây nói lên được cái ý nghĩa tha thiết đó:
1. Nhớ ơn Phật rất nặng: Mười phương ba đời chư Phật xót thương chúng sanh ngu muội mê lầm mà thị hiện thiên bách ức hóa thân, sử dụng vô lượng phương tiện để khai thị chúng sanh ngộ nhập Phật tri kiến. Công đức ấy cao dầy nói sao cho hết.
2. Nhớ ơn cha mẹ: Nhẩm tính cho đến hôm nay ta được thân người, nghĩa là đã trải vô lượng kiếp rồi. Cha mẹ nhiều đời lao nhọc, nay đã trụ ở phương sở nào, làm sao trả được công đức sâu dày, ngoài cách thường hành Phật pháp, độ khắp chúng sanh.
3. Nhớ ơn Sư trưởng: Nay ta hiểu biết, rõ thấu đạo Bồ đề ấy cũng nhờ Sư trưởng khai tâm mở trí cho ta. Nay phải phát tâm Bồ đề độ khắp chúng sanh, trong đó có sư trưởng. Đó là cách đền ơn thân mật vi diệu.
4. Nhớ ơn thí chủ: Đàn na thí chủ mười phương tin tưởng hộ trì mà Phật pháp có phương tiện hành trì, phát đạt thấm đượm đến mình.
5. Nhớ ơn chúng sanh: Ta và chúng sanh đòi hỏi đắp bồi làm cha mẹ, vợ con, anh em thân bằng của nhau, vì thế mà nay ta quyết nhớ ơn, không khởi tâm loạn động, nghĩ đến sự xấu ác ngăn ngại.
6. Nhớ khổ sanh tử: Sanh tử là cửa lên xuống vào ra của ta trong sáu đường ba cõi, đau khổ khôn cùng nên nay không dám dải đãi, phải phát tâm bồ đề.
7. Trọng tánh linh Phật của mình: Ta phải tin vào khả năng thành Phật của mình, phải sanh tâm hổ thẹn. Chư Phật và  ta vốn đồng bản thể, ấy vậy mà ta đã bao đời trầm luân để quý Ngài phải lao nhọc bôn ba hóa độ.
8. Sám hối nghiệp chướng: Đã nhiều kiếp vô minh che lấp, nay được duyên lành gặp được thiện trí, quyết tu hành hồi hướng công đức này cho khắp chúng sanh để tiêu trừ nghiệp chướng, nhất là tâm phát lồ sám hối.
9. Cầu sanh Tịnh Độ: Chỉ có Tịnh độ là hội đủ thắng duyên, đã trút gánh nặng tử sanh, nên cầu đến để tiếp nối tiến trình tu chứng.
10. Làm cho Phật giáo tồn tại lâu dài: Phật đã vì lòng bi xót thương chúng sanh, đã trải qua muôn ngàn trăm ức kiếp tìm ra con đường giải thoát giác ngộ. Công đức ấy cao sâu không sánh nổi, ta không gia công hoằng hóa tài bồi còn đợi đến bao giờ.

V. KẾT LUẬN:
Để hun đúc chí hướng, hâm nóng tâm can, ý nguyện và hành động không được sao nhãng thoái tâm, người Phật tử chúng ta phải phát lập tâm nguyện Bồ đề. Đó là cách xác lập chí hướng tâm nguyện thù thắng.

Lời phụ
Đứng trước sự dải đãi của Tăng Ni, Tín đồ Phật tử, Ngài Thật Hiền viết bài: “Khuyến phát Bồ Đề Tâm văn”, lời văn khúc chiết thiết tha gói trọn pháp môn Phát Bồ đề tâm, đọc qua ai nấy cũng thấy xúc cảm động lòng hướng thượng, anh chị em cố gắng tìm đọc.
Sau đây chúng tôi chỉ tóm tắt đôi nét về Thật Hiện đại sư để anh chị em học viên có thêm tư liệu tham khảo.
Tiểu sử Ngài Thiệt Hiền Đại sư:
Đại sư Thật Hiền tự là Tư Lê, hiệu là Tinh Am, con nhà họ Thời, đất Thường Thục, vốn dòng Nho giáo, sinh năm 1685, tuổi nhỏ đã không ăn mặn, tóc chỏm, đã có chí xuất trần. Cha mất sớm, mẹ là Trương Thị biết đại sư có túc căn nên cho làm con Phật. Lên bảy tuổi, lạy Ngài Dung Tuyền ở am Thanh Lương làm bổn sư.
Thông minh dị thường, kinh điển qua mắt là nhớ kỹ. Năm 15 tuổi thí phát, thông suốt cả sách vở thế gian, lại hay thơ và giỏi cách viết. Tiền bối có nhiều người kết giao làm bạn, nhưng lúc nào Ngài cũng nhớ Sanh Tử là đại sự. Tính chí hiếu, mẹ mất, quỳ trước Phật tụng kinh Báo Ân đến 7 thất. Hằng năm gặp ngày Vu lan lại thiết cúng.
Một hôm đến chùa Phổ Nhãn thấy một vị tăng ngã xuống đất. Đại sư thấm thía cái lẽ vô thường nên càng tinh tiến. Năm 24 tuổi thọ Cụ túc giới tại chùa Chiêu Khánh, nghiêm tập giới luật, không rời y bát, ngày ăn một bữa, thường không ngủ nghỉ.
Năm Canh Dần (1710), y chỉ Cư Thành Pháp sư nghe giảng Pháp Hoa. Yết kiến Thiệu Đàm Pháp sư học tập Duy Thức Lăng Nghiêm, Chỉ Quán, nghiên cứu ngày đêm chưa đến ba hạ mà tôn chỉ của Quán và Thiền, học thuyết về Tánh với Tướng thông suốt tất cả. Thiệu Đàm Pháp sư liền thọ ký làm thế hệ thứ tư của Ngài Linh Phong thuộc Thiên Thanh chánh tôn.
Năm Giáp Ngọ (1714) yết kiến Linh Thứu Hòa Thượng tại Sùng Phước, tham Thiền với công án “Ai niệm Phật”, tham cứu nghiêm mật, đến tháng tư năm ấy đột nhiên đại ngộ “Ta tỉnh mộng rồi”, từ đó ứng cơ vô ngại, biện tài khôn cùng. Linh Thứu Hòa thượng muốn phú y bát cho, Đại sư từ mà đi. Cấm túc chùa Chân Tịch, ngày đọc Tam tạng kinh điển, đêm đêm niệm danh hiệu A Di Đà, ba năm hết kỳ hạn, chúng trong chùa thỉnh giảng Pháp Hoa, Đại sư giảng thông suốt như suối tuôn chảy.
Đầu xuân năm Mậu Tuất 1718, Đại sư ở Chùa Long Hưng thuộc Hàng Châu, Thiệu Đàm pháp sư bảo giảng Kinh Luật thay cho mình và ca tụng hết sức.
Mùa xuân năm Kỷ Hợi 1719 đến Tứ Minh, núi A Dục, chiêm bái Xá Lợi, trước sau đốt 5 ngón tay cúng Phật. Mỗi năm đến ngày Niết Bàn, Đạo sư  giảng hai Kinh Di Giáo và Di Đà, khai thị cắt nghĩa “Tâm này là Phật”. Mười năm như vậy pháp hóa khắp cả mọi nơi. Đại sư lại nhận lời thỉnh mời của các Thiền tịch Vĩnh Phước, Phổ Khánh và Hải Vân, đến đâu thì sinh hoạt ở đó được quý nghiêm. Nhưng không bao lâu Đại sư lại thoái ẩn ở chùa Tiên Lâm thuộc Hàng Châu không ra khỏi cửa, nỗ lực tu tập Tịnh Độ.
Mùa đông năm Kỷ Dậu 1729, Tăng tín đồ Hàng Châu thỉnh Ngài chủ trì chùa Phan Thiên núi Phụng Sơn. Đại sư liền tuyệt hết mọi việc chỉ nêu Tịnh Độ, hạn định trường kỳ, nghiêm lập quy ước, suốt ngày đêm dục nhau nỗ lực, nên ai cũng cho Đại sư là Ngài Vĩnh Minh tái sinh.
Trước sau Đại sư làm chủ các chùa hơn 10 năm, đệ tử đến vài trăm, ai học thi văn thì Đại sư thống trách: Mạng người chỉ ở trong hơi thở ra vào, đâu có rảnh hơi học tập văn tự thế gian, sơ sẩy một chút là đã kiếp khác, muốn được giải thoát thật vô cùng khó khăn.
Năm Quý Sửu 1733, ngày Phật thành đạo, Đại sư bảo đệ tử 14 tháng tư sang năm ta đi luôn rồi đó. Từ đó Đại sư đóng của niệm Phật, tự hạn 10 vạn tiếng trong mỗi ngày đêm. Qua năm Giáp Dần 1734, ngày 2 tháng tư Đại sư mở cửa. Ngày 12 báo đại chúng: 10 ngày trước đây ta thấy Tây Phương Tam thánh, nay lại thấy nữa thì ta sẽ sanh về Tịnh Độ. Rồi dặn dò công việc tự viện, từ biệt và khuyến khích mọi người: Ngày 14 tôi nhất định vãng sanh, vậy các người tập họp niệm Phật giúp tôi. Ngày 13 bỏ ăn uống khép mắt ngồi yên, canh 5 tắm rửa thay đồ, quay mặt về hướng Tây mà ngồi, giờ Tỵ mọi người vân tập gạt lệ thưa: Xin Đại sư ở lại hóa độ cho mọi người, Đại sư mở mắt bảo: “Ta đi là trở lại liền, sinh tử là việc lớn, ai nấy hãy tự tịnh tâm mà niệm Phật” Nói rồi chấp tay niệm Phật mà tịch. Giây lát chỉ lỗ mũi hơi xẹp, còn nhan sắc vẫn tươi mát, khi liệm vẫn không thay đổi. Linh cốt của Đãi sư ban đầu để tại tháp xây ở phía Tây đồi.
Đời Càn Long thứ 7 năm 1742, rằm tháng 2 ngày Phật niết bàn, lại dời về tháp mới xây ở phía hữu chùa A Dục, tháp cũ thì tàng y bát của Đại sư.
Đại sư sinh ngày 8 tháng 8 năm Khang Hy (1685) thọ 49 tuổi trong đó có 25 tuổi hạ. Tác phẩm có Tịnh Độ Thi 108 bài, Chú Tây Phương phát nguyện văn, Tục Vãng sanh truyện, Đông Hài ngược giải, Xá Lợi Sám và Niết Bàn Sám, Tất cả đều lưu hành ở nhân gian.
Đồng học là Luật Nhiên, thuật vào ngày Trùng dương, năm Ất Sửu 1745.

Link: http://www.gdpt-ducquoc.de/index.php?option=com_content&view=article&id=270:10-phat-b-tam&catid=72:bc-nh&Itemid=96

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.